Quản lý chất thải nhựa: Chính sách phải bắt đầu từ dữ liệu và đi cùng thực tiễn
Giới thiệu về sự kiện
Ngành nhựa giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống, song lượng chất thải sau sử dụng ngày càng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý. Tại hội thảo do Cục Môi trường tổ chức, các đại biểu nhấn mạnh sự cần thiết của dữ liệu đáng tin cậy, hệ thống thu gom và tái chế được kết nối, cùng những chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Ngày 25/9/2026, tại Phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Môi trường đã tổ chức hội thảo góp ý kết quả thực hiện nhiệm vụ “Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình phát sinh, phân loại, thu gom, tái chế, xử lý chất thải nhựa; đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy định về quản lý chất thải nhựa”. Hội thảo có sự tham dự của ông Vũ Đình Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường; đại diện các địa phương, tổ chức, chuyên gia và doanh nghiệp. Bà Huỳnh Thị Mỹ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam, tham dự và đóng góp ý kiến.
Các báo cáo tại hội thảo cho thấy quản lý chất thải nhựa là một bài toán liên quan đến toàn bộ dòng vật liệu. Nhựa đi vào sản xuất, trở thành sản phẩm, được sử dụng trong những khoảng thời gian khác nhau rồi mới phát sinh chất thải. Trên đường từ nơi thải bỏ đến cơ sở xử lý, một phần vật liệu đã được thu hồi qua nhiều kênh. Nếu chỉ dựa vào số liệu tại bãi rác hoặc một khâu riêng lẻ, kết quả đánh giá khó phản ánh đầy đủ thực trạng.
Vì vậy, yêu cầu nổi bật được nhiều đại biểu nêu ra là chuẩn hóa phương pháp điều tra và kết nối dữ liệu từ đầu vào đến đầu ra. Một bộ số liệu đáng tin cậy cần cho thấy nhựa được sử dụng ở đâu, lượng nào có thể thu hồi, lượng nào thực sự được tái chế và lượng nào còn thất thoát ra môi trường. Đó là cơ sở để xác định đúng vấn đề ưu tiên, lượng hóa tác động của chính sách và đánh giá kết quả thực hiện qua từng giai đoạn.

Chia sẻ thêm góc nhìn của Hiệp hội Nhựa Việt Nam, bà Huỳnh Thị Mỹ cho hay Trong những năm gần đây, ngành nhựa Việt Nam phát triển nhanh và được các đối tác trong khu vực đánh giá là một thị trường có tiềm năng. Vì vậy, khi xây dựng chính sách, chúng ta cần tính đến thực tế phát triển của ngành, nhu cầu sử dụng vật liệu và khả năng thay thế của từng nhóm sản phẩm. Nhựa được sử dụng rộng rãi vì có những tính năng phù hợp với sản xuất và đời sống. Theo Bà Huỳnh Thị Mỹ, điều quan trọng là tạo được một chuỗi vận hành hiệu quả: sản phẩm thuận lợi cho thu hồi, người dân có điều kiện phân loại, đơn vị thu gom có đầu ra và doanh nghiệp tái chế tiếp cận được nguồn nguyên liệu đủ chất lượng. Khi các mắt xích này được kết nối, vật liệu sau sử dụng có thêm cơ hội quay lại sản xuất.
Trong tiến trình xây dựng Hiệp ước Nhựa toàn cầu, có ba nội dung quan trọng đối với ngành nhựa mà Việt Nam đã và đang thực hiện, trong đó có những nội dung gắn với cơ chế EPR: phân loại rác tại nguồn để thu gom, tái chế; thiết kế lại sản phẩm; và giảm lượng nhựa trong thành phẩm nhưng vẫn bảo đảm công năng.

Bà Mỹ cũng nhấn mạnh, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi có thể triển khai và giám sát trên thực tế, tạo động lực để cơ sở sản xuất tuân thủ, đồng thời huy động được nguồn lực cho hoạt động thu gom, phân loại và tái chế.
Ý kiến của Hiệp hội nhận được sự quan tâm và đồng tình tại phiên thảo luận. Ông Vũ Đình Nam ghi nhận những đóng góp từ thực tiễn ngành nhựa, đồng thời đề nghị nhóm thực hiện nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội và các địa phương để rà soát số liệu, bảo đảm kết quả nghiên cứu sát thực tế. Các đại biểu cũng trao đổi về hạ tầng phân loại, thu gom; vai trò của lực lượng thu hồi phế liệu; thị trường cho vật liệu tái chế và trách nhiệm của các bên trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Kết luận hội thảo, Cục Môi trường đề nghị đơn vị thực hiện tiếp thu đầy đủ ý kiến góp ý, hoàn thiện phương pháp và bộ chỉ số khảo sát, đồng thời duy trì tham vấn với địa phương, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp. Dữ liệu đúng sẽ giúp chính sách đi đúng hướng; chính sách khả thi sẽ giúp vật liệu được sử dụng hiệu quả hơn và giảm lượng chất thải nhựa thất thoát ra môi trường. Đó cũng là điểm gặp nhau giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và yêu cầu phát triển của ngành nhựa Việt Nam.